XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

Khái quát tình hình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Ea H'Leo qua 5 năm thực hiện (2011-2015).  

     Thực hiện Chương trình Xây dựng nông thôn mới (XD NTM) là nội dung quan trọng thực hiện theo Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 5/8/2011 của Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khóa X) về nông nghiệp, nông thôn, nông dân; mục tiêu phát triển nông thôn một cách toàn diện theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên hầu hết các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và quốc phòng - an ninh, nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân ở vùng nông thôn, rút ngắn khoảng cách giữa thành thị và nông thôn. Để đạt được mục tiêu trên, ngày 4/6/2010 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 800/QĐ-TTg về việc phê duyệt chương trình MTQG XD NTM giai đoạn 2010-2020, đi đôi với việc triển khai của Trung ương, Tỉnh ủy Đắk Lắk đã có Nghị quyết số 03-NQ/TU, ngày 22/4/2011, Huyện ủy Ea H'leo đã có Nghị quyết số 03-NQ/HU, ngày 15/7/2011 về việc XD NTM giai đoạn 2011-2015 định hướng đến năm 2020 và HĐND huyện đã ban hành Nghị quyết số 07/2012/NQ-HĐND, ngày 11/01/2012 về việc XD NTM huyện Ea H'leo giai đoạn 2012-2016.

     Sau hơn 5 năm triển khai, thực hiện chương trình MTQG XD NTM, được sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, Ban chỉ đạo XD NTM tỉnh cùng với sự phối hợp chặt chẽ của các sở, ngành, đoàn thể của tỉnh, đặc biệt là Văn phòng Điều phối nông thôn mới của tỉnh và sự nỗ lực của đảng bộ, chính quyền, đoàn thể các cấp, toàn thể nhân dân trên địa bàn huyện từ đó kinh tế - xã hội của huyện nhà trong những năm qua không ngừng phát triển; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; kết cấu hạ tầng nông thôn được chú trọng đầu tư, bộ mặt nông thôn ngày càng đổi mới theo hướng hiện đại, cơ bản đáp ứng điều kiện đi lại, học hành, chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân, phục vụ ngày càng tốt hơn các nhu cầu về sản xuất và sinh hoạt của cộng đồng dân cư nông thôn.

     Trong 5 năm (2011-2015) đã huy động tổng thể các nguồn vốn là 3.072.246.800.000 đồng,  trong đó phân theo các nguồn như sau:

     -  Ngân sách cấp trực tiếp: 71.113.800.000 đồng (chiếm 2,31%), trong đó:

     + Ngân sách Trung ương: 9.885.000.000 đồng;

     + Ngân sách tỉnh: 17.773.000.000 đồng;

     + Ngân sách huyện: 37.834.800.000 đồng;

     + Ngân sách xã: 5.621.000.000 đồng.

      - Vốn lồng ghép các chương trình, dự án: 346.063.500.000 đồng (chiếm 11,26 %).

      - Vốn tín dụng: 2.324.339.400.000 đồng (chiếm 75,66 %).

      - Vốn của doanh nghiệp: 67.129.900.000 đồng (chiếm 2,19 %).

      - Đóng góp của người dân: 263.030.200.000 đồng (chiếm 8,56 %).

      - Vốn khác: 570.000.000 đồng (chiếm 0,02 %).

     Xác định việc huy động các nguồn lực trong nhân dân có ý nghĩa quyết định trong thực hiện chương trình XD NTM. Trong những năm qua, địa phương đã chỉ đạo đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động bằng nhiều phương pháp, hình thức và đã có sự vào cuộc của các tổ chức trong hệ thống chính trị như: UBMTTQ các cấp với phong trào " toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư gắn với xây dựng nông thôn mới", Hội nông dân với phong trào thi đua " hộ sản xuất kinh doanh giỏi", Hội LH Phụ nữ với cuộc vận động "xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch", phong trào "người cao tuổi làm kinh tế giỏi"

     Với sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt của Ban Thường vụ Huyện ủy, các cấp Đảng ủy, chính quyền, sự phối kết hợp chặt chẽ của các ban, ngành, đoàn thể, sự nổ lực cố gắng của nhân dân, sau 5 năm triển khai, thực hiện chương trình MTQG XD NTM trên địa bàn huyện đã đạt được những kết quả quan trọng, tạo tiền đề cho những năm tiếp theo. Đó là:

     * Về Quy hoạch nông thôn: 11/11 xã cơ bản đạt chuẩn về tiêu chí quy hoạch và thực hiện quy hoạch;

     * Giao thông nông thôn: Đã xây dựng, nâng cấp được trên 101 km đường liên huyện, đường xã- liên xã, nâng tỷ lệ km đường trục xã, liên xã theo quy hoạch được nhựa hóa hoặc bê tông hóa đạt chuẩn theo quy định tăng từ 46,29% lên 54,68% (NQ là 50%); 90,9% xã có đường nhựa đến trung tâm (NQ là 100%); nâng cấp được 45,52 km đường thôn, liên thôn, đường ngõ xóm bằng bê tông xi măng; đổ cấp phối 15,67 km; 08 cầu qua suối; 09 cống qua đường. Góp phần nâng tỷ lệ km đường trục thôn, buôn được cứng hóa đạt chuẩn tăng từ 16,83% lên 23% (NQ là 40%); bê tông hóa 01km, đổ cấp phối trên 6km, san gạt, mở rộng được trên 10 km đường ngõ xóm, nâng tỷ lệ km đường ngõ, xóm sạch được cứng hóa, đảm bảo không lầy lội vào mùa mưa tăng từ 19,21% lên 51,25% (NQ là 40%); đường nội đồng được nhựa hóa 15,2 km, cấp phối 7km, san gạt mở rộng gần 9km, nâng tỷ lệ đường trục chính nội đồng được cứng hóa, xe cơ giới đi lại thuận tiện đạt chuẩn là tăng từ 9,1% lên 17,22% (NQ là 40%). Đến nay, xã Dliê Yang cơ bản đạt chuẩn về tiêu chí giao thông;  

     * Thủy lợi: Đã xây dựng mới được 01 công trình (Ea Wy Thượng- xã Ea Khal) và sửa chữa, nâng cấp 11 công trình, nâng tổng số công trình thủy lợi trên địa bàn nông thôn là 39 công trình, trong đó huyện, xã quản lý 35 công trình, DNNN quản lý 04 công trình; các công trình huyện, xã quản lý đều có tổ chức thủy nông quản lý, cùng với nguồn nước suối tự nhiên, các ao, hồ, giếng đào, giếng khoan nhân dân tự làm … đã cơ bản đáp ứng cho việc chủ động tưới trên khoảng 80% diện tích cây trồng có nhu cầu sử dụng nước tưới (NQ là 75%); Về hệ thống kênh mương, đã xây dựng kiên cố hóa được 4.473 m kênh mương, nâng tỷ lệ kênh mương của huyện được kiên cố hóa tăng từ 25,5% lên 49% (9.365m/19.192m), (NQ là trên 40%);

     * Về Điện nông thôn: Không ngừng được xây dựng, nâng cấp cơ bản đáp ứng nhu cầu sinh hoạt và sản xuất. Trong những năm qua đã xây mới trên 21 trạm biến áp, trên 39 km đường điện trung thế, 50 km điện hạ thế, nâng tổng chiều dài đường điện trung thế và hạ thế khu vực nông thôn của huyện trên 377 km. Xây mới trên 20 km đường điện thắp sáng công cộng. Đến nay có 95% thôn, buôn có điện (NQ là 100%); 95,9% số hộ được dùng điện (NQ là 99%).

     * Trường học: Không ngừng được xây dựng, nâng cấp, cụ thể: Số Trường học ở các xã mới xây dựng trong giai đoạn 2011-2015 là 02 trường, số phòng học được xây mới là trên 24 phòng, nâng cấp trên 40 phòng; Hiện có 70% thôn, buôn có điểm trường hoặc lớp mẫu giáo (NQ là 100%); 61% số phòng học được kiên cố hóa (NQ là 75%); tỷ lệ trường học đạt chuẩn quốc gia còn thấp: chưa có trường mầm non đạt chuẩn (NQ là 25%), 43% đối với trường tiểu học (NQ là 55%), chưa có trường trung học cơ sở đạt chuẩn (NQ là 25%).

     * Cơ sở vật chất về văn hóa nông thôn: Trong 05 năm qua, có 17 Hội trường thôn (Nhà văn hóa thôn) được xây dựng, nâng cấp, nguồn vốn của dân đóng góp là chủ yếu. Hiện có 80% số thôn, buôn được được quy hoạch đất để xây dựng điểm văn hóa thể thao (NQ là 100%); trong đó, có 31,6% nhà văn hóa thôn, buôn được xây dựng theo quy định (NQ là 50%). Chưa có xã nào có nhà văn hóa và khu thể thao xã đạt chuẩn (NQ là 30% xã có nhà văn hóa và khu thể thao xã đạt chuẩn ; Riêng 02 xã: Dliê yang và Ea H'Leo phải đạt 100%).

     * Chợ nông thôn: Các chợ nông thôn không ngừng được sửa chữa, nâng cấp như: chợ các xã Ea Răl, Ea H'Leo, Ea Sol, Ea Nam, Ea Wy, Ea Hiao. Nâng tổng số chợ đạt chuẩn năm 2015 so với năm 2011 tăng từ 02 lên  07 chợ (đạt 63,6%, gồm các xã: Ea Nam, Ea Ral, Ea H'leo, Ea Sol, Ea Wy, Cư Mốt và Đliê Yang). (NQ là 30% số chợ nông thôn trong huyện đạt chuẩn theo quy định)

     * Thông tin, bưu điện: không ngừng được cải tạo nâng cấp. Có 81,8% số xã có hệ thống thông tin bưu điện (NQ là 100%); trong đó, có 100% số thôn, buôn có sóng truy cập internet Dcom 3G (NQ là 50% số thôn buôn có dịch vụ internet; 130 máy điện thoại/100 hộ dân; 15 thuê bao internet/100 hộ dân).

     * Nhà ở nông thôn: Trong thời gian qua, số nhà tạm, dột nát đã được nhân dân tự tu sửa, nâng cấp trên 5.520 nhà; các tổ chức đoàn thể, mặt trận và doanh nghiệp trong ngoài huyện đã hỗ trợ xây dựng trên 50 nhà tình nghĩa cho các hộ gia đình chính sách. Số nhà ở nông thôn được xây mới, nâng cấp đạt chuẩn của Bộ xây dựng không ngừng tăng lên, mỗi năm trung bình mỗi xã có trên 20 nhà được xây mới và nâng cấp bằng vốn tự có và vốn vay của người dân. Đến nay, về cơ bản các xã đã hoàn thành chỉ tiêu xóa nhà tạm, dột nát tại các khu vực quy hoạch điểm dân cư; đã có khoảng 60% số hộ (trên tổng số 23.200 nhà ở nông thôn) có nhà đạt tiêu chuẩn của Bộ Xây dựng (NQ là 50%).

     * Về kinh tế và tổ chức sản xuất: Nổi bật trong 05 năm qua,  các cấp, các ngành trên địa bàn huyện đã quan tâm công tác phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho người dân; Các mô hình sản xuất, thâm canh có hiệu quả theo hướng hiện đại, phát triển cơ giới hóa, gắn giữa sản xuất và tiêu thụ đã được triển khai nhân rộng. Kết quả:

     * Thu nhập bình quân: khu vực nông thôn trên địa bàn huyện năm 2015 là 29,69 triệu đồng; tăng 2,12 lần so với mức thu nhập bình quân/người ở nông thôn năm 2010 (NQ là 1,5 lần).

     * Tỷ lệ hộ nghèo: Số hộ nghèo ở nông thôn (không bao gồm thị trấn) năm 2015 là 934 hộ, giảm là 2.181 hộ, giảm bình quân 3,2%/năm (NQ là giảm 3%/năm).

     * Cơ cấu lao động: Tỷ lệ lao động trong độ tuổi làm việc trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp, thủy sản hiện nay là 83,2% (NQ là 62%).

     * Hình thức tổ chức sản xuất: Từ năm 2011 đến cuối 2015, trên địa bàn các xã đã thành lập mới 08 Hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, 19 Tổ hợp tác. Đặc biệt trong năm 2015 đã thành lập được 01 liên hiệp hợp tác xã nông nghiệp bền vững; nâng tổng số hợp tác xã nông nghiệp ở nông thôn trên địa bàn huyện là 20 hợp tác xã, 53 Tổ hợp tác. Nhìn chung, hình thức tổ chức sản xuất ở nông thôn đã được cải tiến, đổi mới; có nhiều liên minh sản xuất hoạt động có hiệu quả, như: Các liên minh sản xuất cà phê theo tiêu chuẩn 4C, Rain Forest ở các xã Dliê Yang, Ea Nam, Ea Hiao...(NQ là cải tiến, đổi mới hình thức tổ chức sản xuất ở nông thôn, có tổ hợp tác, hợp tác xã hoặc liên minh sản xuất hoạt động có hiệu quả).

     * Về Giáo dục:  Giữ vững phổ cập giáo dục Trung học cơ sở, đang tiến tới phổ cập giáo dục trung học phổ thông (đạt chỉ tiêu NQ  đề ra);  Có trên 85% học sinh tốt nghiệp Trung học cơ sở được tiếp tục học Trung học phổ thông ( phổ thông, bổ túc, học nghề) ( NQ đề ra là 80%). Nâng tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi đi học mẫu giáo lên 70%, học sinh tiểu học đi học đúng độ tuổi trên 90% (đạt chỉ tiêu NQ đề ra).

     Tỷ lệ lao động trong độ tuổi ở nông thôn qua đào tạo đến nay đạt trên 21% (NQ là trên 42%).

     * Y tế: Từ năm 2011 đến hết năm 2015, đã triển khai tốt Chương trình mục tiêu quốc gia, các chương trình, dự án khác về y tế, nâng tỷ lệ người dân tham gia các hình thức bảo hiểm y tế khu vực nông thôn hiện nay đạt 76,4%. Số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế hiện nay toàn huyện là 11/11 xã, đạt 100% (NQ là 100%).

     *  Văn hóa: Hoạt động văn hóa, văn nghệ và thể dục thể thao được tổ chức sôi nổi, phục vụ tốt nhu cầu giải trí cho người dân. Đến hết năm 2015, có 110/192  thôn, buôn đạt tiêu chuẩn văn hóa, đạt 63,2% (NQ là 65%). Số gia đình đạt gia đình văn hóa là 18.071 gia đình, đạt tỷ lệ 73,0 % gia đình ở nông thôn. Số xã đạt tiêu chí văn hóa năm 2015 là 5 xã (Cư A Mung, Ea H'Leo, Ea Wy, Ea Khal, Cư Mốt).

     * Môi trường: Các hoạt động bảo vệ môi trường nông thôn đã được chú trọng: có 80% dân cư nông thôn được dùng nước sinh hoạt hợp vệ sinh (đạt chỉ tiêu NQ); 50% các cơ sở sản xuất, kinh doanh ở các xã đạt tiêu chuẩn về môi trường (NQ là 100%); các xã đã có một số hoạt động bảo vệ môi trường, phát triển môi trường xanh –sạch –đẹp như trồng cây xanh  nhân dịp 19/5 hàng năm, thành lập tổ thu gom rác, 63,6% rác thải ở các xã được thu gom và xử lý theo quy định (NQ là 100%);  38,5% nghĩa trang ở các xã được xây dựng theo quy hoạch (NQ là 100%).

     * Về xây dựng hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh:

     Từ năm 2011 đến hết năm 2015, công tác đào tạo, tuyển dụng nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở luôn được các địa phương quan tâm, cán bộ từng bước đạt chuẩn (về trình độ học vấn và chuyên môn) để củng cố, nâng cao năng lực vận động quần chúng và điều hành thực tiễn cho cán bộ cơ sở.

     - Hiện 11 xã có 132 cán bộ, 128 công chức. Trong đó: có 247/260 cán bộ, công chức xã đạt chuẩn theo quy định về bằng cấp, chứng chỉ đào tạo, đạt 95% (NQ là 100%).

     - 100% xã có đầy đủ các tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sở theo quy định và hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, (NQ là 100%);

     - Có 155/245 chi bộ trực thuộc Đảng bộ cơ sở đạt "trong sạch, vững mạnh", đạt 63,3% (NQ là 70%);

     - Đến hết năm 2015, có 04/11 xã (đạt 36,36%) Đảng bộ, chính quyền xã đạt tiêu chuẩn "trong sạch vững mạnh"; gồm: Đảng bộ các xã: Ea Khal, Ea Tir, Cư A Mung, Ea Wy (NQ là 65%);

     - 45/55 (81,2%) các tổ chức đoàn thể chính trị của xã đạt danh hiệu tiên tiến, (NQ  là 80%).

     * Giữ vững an ninh chính trị, trật tự xã hội: . Qua các năm, tình hình an ninh chính trị cơ bản được giữ vững. Đến hết năm 2015, mức độ đạt tiêu chí về an ninh, trật tự xã hội của các xã trên địa bàn huyện là 4/11 xã, đạt 36,36%; gồm các xã: Ea Khal, Cư A Mung, Dliê Yang, Ea Tir (NQ là 100%).

     * Tổng số tiêu chí đạt đến tháng 5/2016 của 11 xã trên địa bàn huyện là 110 tiêu chí/209 tiêu chí, tăng 82 tiêu chí so với năm 2011; số tiêu chí đạt bình quân chung cho 11 xã là 10 tiêu chí/xã; tăng 7 tiêu chí/xã so với năm 2011. Hiện có 01 xã đạt 13 tiêu chí (Ea Wy), 01 xã đạt 12 tiêu chí (Dliê Yang), 02 xã đạt 11 tiêu chí (Ea Ral, Ea Khal); 04 xã  đạt 10 tiêu chí (Ea H'Leo, Ea Nam, Cư A Mung, Ea Hiao), 01 xã đạt 9 tiêu chí (Ea Sol); 01 xã đạt 08 tiêu chí (Cư Môt), 01 xã đạt 6 tiêu chí (Ea Tir).

@ CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ HUYỆN EA H'LEO, TỈNH ĐẮK LẮK

Địa chỉ: 22 Điện Biên Phủ, TT. Ea Drăng, huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk.

Điện thoại: 0500 3 777 752 Fax: 0500 3 777 752

Trưởng ban biên tập: Ông Đoàn Tử Minh - PCT UBND Huyện